Kiếm tiền với Ola City
Ola city
Chuyên mục giới thiệu

ĐĂNG KÝ NGAY ĐỂ CÓ CƠ HỘI SỞ HỮU CỔ PHẦN
TẠI TẬP ĐOÀN SKYWAY

Linh đăng ký:  https://new.skyway.capital/auth/registration?partner_id=379172
Linh tìm hiểu về tập đoàn:  https://skyway.link-stats.site/?partner_id=379172
Lịnk trang chủ:  http://skyway.khobaitap.com
zalo hỗ trợ: 0914789545
 

LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU TỪ GIỮA NHỮNG NĂM 70 ĐẾN ĐẦU NHỮNG NĂM 90 CỦA THẾ KỈ XX.

Thứ bảy - 26/06/2021 06:32
Câu hỏi 92.
- Tiến trình của cuộc cải tổ của Liên Xô diễn ra như thế nào ? Hậu quả của nó.
- Theo anh (chị), công cuộc đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng có gì khác với biện pháp và chủ trương của Liên Xô ? Trong khi Liên Xô thực hiện công cuộc cải tổ từ năm 1985 - 1991 không thành, thì công cuộc đổi mới đất nước ở Việt Nam từ năm 1986 - 1991, đạt được những thành tựu như thế nào ?
tải xuống (3)
tải xuống (3)
Hướng dẫn làm bài
I/ Tiến trình của cuộc cải tổ của Liên Xô diễn ra như thế nào ? Hậu quả của nó.
  1. Bối cảnh lịch sử.
  •  Bước vào thập niên 70, tình hình thế giới có nhiều biến động báo hiệu cuộc khủng hoảng chung mang tính toàn cầu (không trừ một quốc gia nào), mở đầu là cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973 đặt ra cho nhân loại những vấn đề bức thiêt cần phải giải quyết (bùng nỗ dân số, hiểm hoạ môi trường, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt,...).
  • Để thích nghi về kinh tế, chính trị, xã hội những biến động này đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành những cải cách điều chỉnh về cơ cấu, kinh tế, chính trị, xã hội cho phù hợp với tình hình mới.
  •  Đây vừa là thời cơ vừa là thách thức vươn lên của các quốc gia. Nhưng những người lãnh đạo Đảng và nhà nước Liên Xô lại không thức đó chủ quan cho rằng quan hệ sản xuất chủ nghĩa xã hội không chịu tác động của cuộc khủng hoảng chung toàn thế giới, chậm sửa đổi chậm thích ứng và đã bỏ lỡ thời cơ này.
  • Sau cuộc khủng hoảng thế giới (1973) các nước tư bản tiến hành nhiều cải cách điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội. Cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật lần hai trên thế giới đã đạt được nhiều thành tựu kỳ diệu.
  • Trong tình hình mới, mô hình và cơ chế của chủ nghĩa xã hội của Liên Xô vốn đã tồn tại nhiều khuyết tật (phát triển kinh tế theo chiều dọc, hiệu quả thấp và thiếu sức sống, phủ nhận quy luật khách quan về kinh tế) đã cản trở phát triển mọi mặt của xã hội.
  •  Sự bất mãn trong nhân dân ngày càng tăng trước những hiện tượng thiếu dân chủ chưa công bằng vi phạm pháp chế chủ nghĩa xã hội , tệ nạn quan liêu, độc đoán,... trong bộ máy nhà nước làm cho đất nước lâm vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng toàn diện.
- Chính những sai lầm trong việc không có những chủ trương, đường lối phù hợp đã khiến Liên Xô không vượt qua được khủng hoảng như các nước tư bản mà ngày càng lún sâu vào khủng hoảng, làm cho cuộc khủng hoảng toàn diện và trầm trọng hơn.
  1. Công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985 - 1991)
Năm 1985, Goócbachốp     thực hiện  công cuộc  cải  tổ nhằm đưa  đất  nước thoát khỏi  khỏi  khủng
hoảng.
  • về     chính trị, xã  hội: thiết  lập chế độ tổng thống tập  trung mọi  quyền về tay tổng thống,  thực
hiện chế độ đa nguyên về      chính trị, hạ thấp vai trò  của Đảng  Cộng sản.thực  hiện dân chủ và
công khai vô nguyên tắc.
  •  về kinh tế: chuyển sang nền kinh tế thị trường nên quan hệ quan hệ kinh tế cũ bị phá vỡ trong khi quan hệ sản xuất mới chưa hình thành.
  •  Cải tổ thất bại: kinh tế suy sụp dẫn đến khủng hoảng chính trị xã hội, xung đột dân tộc nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô chia rẽ, các thế lực chống chủ nghĩa xã hội phát triển mạnh mẽ. Đất nước rơi vào khủng hoảng toàn diện, công cuộc cải tổ vượt khỏi mục tiêu chủ nghĩa xã hội .
 
  1. Kết cục
  •  Công cuộc cải tổ ngày càng bế tắc, kinh tế sụp đổ dẫn đến khủng hoảng về chính trị, xã hội, xung đột giữa các dân tộc, sắc tộc. Sự bất đồng trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô ngày càng phát triển. Các thế lực chống chủ nghĩa xã hội tích cực hoạt động.
  • Ngày 19/8/1991, một số nhà lãnh đạo Đảng và chính phủ Xô viết tổ chức đảo chính Goócbachốp nhưng bất thành. Sau cuộc đảo chính bất thành (1988 - 1991), Đảng Cộng sản Liên Xô bị đình chỉ hoạt động (9/1991) các nước Cộng hoà tuyên bố độc lập (chính quyền Xô viết bị giải thể).
  • Ngày 21/12/1991, 11   nước  Cộng  hoà thành lập  “Cộng  đồng  các quốc gia   độc  lập”  (SNG).
25/12/1991, chính phủ Liên bang bị giải thể, cờ búa liềm trên nóc điện Cremli bị hạ xuống.
  • Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ là tổn thất lớn nhất cuả hệ thống chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới. Nhưng đây là sự sụp đổ cuả một mô hình chủ nghĩa xã hội khuyết tật chứ không phải là sự sụp đổ cuả lý tưởng chủ nghĩa xã hội . Sự khủng hoảng và sụp đổ đã để lại những bài học kinh ngiệm quý giá cho chủ nghĩa xã hội .
II/ Theo anh (chi), công cuộc đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng có gì khác với biện pháp và chủ trương của Liên Xô ? Trong khi Liên Xô thực hiện công cuộc cải tổ từ năm 1985­1991 không thành, thì công cuộc đổi mới đất nước ở Việt Nam từ năm 1986 - 1991, đạt được những thành tun như thế nào ?
  • Công cuộc  đổi mới do Đảng  ta lãnh  đạo không xa  rời mục tiêu chủ  nghĩa xã  hội, kiên quyết
không chấp nhận đa nguyên, đa Đảng.
  •  Thừa nhận cơ chế thị trường và các thành phần kinh tế cạnh tranh do nhà nước nắm quyền chủ
đạo.
  • Đa phương hoá quan hệ.
  • Do vậy công cuộc đổi mới đất nước ta đạt được nhiều thành tựu về mọi mặt, nâng cao uy tín và địa vị Việt Nam trên trường quốc tế. Trong khi Liên Xô cải tổ đã làm xáo động chính trị, kinh tế sụp đổ, đời sống nhân dân xa sút, các thế lực phản động phá hoại.
  • Sự thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông âu không làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào sự thắng lợi sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội với mục tiêu: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,văn minh.
  • Cương  lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ   quá độ đi  lên chủ nghĩa xã hội của    đại hội  Đảng
Cộng sản Việt Nam ghi rõ: chủ nghĩa xã hội - xã hội mà ta đang xây dựng là xã hội :
+ Do dân lao động làm chủ.
+ Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tuq liệu sản xuất chủ yếu.
+ Có nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
+ Con người được giải phóng khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có chính sách ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
+ Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp nhau cùng tiến bộ.
+ Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Ỷ Trong khi Liên Xô thực hiện công cuộc cải tổ từ năm 1985-1991 không thành, thì công cuộc đổi mới đất nước ở Việt Nam từ năm 1986-1991, đạt được những thành tựu:
  •  Về lương thực - thực phẩm, từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải nhập hơn 45 vạn tấn gạo, đến năm 1990 chúng ta đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân và thay đổi cán cân xuất - nhập khẩu. Sản xuất lương thực năm 1988 đạt 19,50 triệu tấn, vượt năm 1987 hơn 2 triệu tấn, và năm 1989 đạt 21,40 triệu tấn.
  • Hàng hóa trên   thị trường,  nhất  là hàng tiêu dùng,   dồi dào, đa dạng, và   lưu  thông tương đối
thuận lợi, trong đó nguồn hàng sản xuất trong nước tuy chưa đạt kế hoạch vẫn tăng hơn trước và có tiến bộ về mẫu mã, chất lượng. Các cơ sở sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường. Phần bao cấp của Nhà nước về vốn, giá, vật tư, tiền lương... giảm đáng kể.
  • Kinh tế đối ngoại phát triển mạnh, mở rộng hơn trước về quy mô, hình thức và góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Từ 1986 đến 1990, hàng xuất khẩu tăng gần 3 lần (từ 439 triệu rúp và 384 triệu đô la lên 1019 triệu rúp và 1170 triệu đô la).
  • Từ 1989 tăng thêm các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn như gạo, dầu thô và một số mặt hàng mới khác. Năm 1989 ta xuất 1,5 triệu tấn gạo. Nhập khẩu giảm đáng kể.
  •  Một thành tựu quan trọng nữa là đã kiềm chế được một bước đà lạm phát. Nếu chỉ số tăng giá bình quân hàng tháng trên thị trường năm 1986 là 20%, năm 1987 là 10%, năm 1988 là 14% thì năm 1989 là 2,5% và năm 1990 là 4,4%. Nhờ kiềm chế được lạm phát, các cơ sở kinh tế có điều kiện thuận lợi hơn để hạch toán kinh doanh, đời sống nhân dân giảm bớt khó khăn.
Câu hỏi 93.
Cuộc khủng hoảng cuả chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu đã diễn ra như thế nào trong những năm 1989 - 1991 ? Hậu quả cuả nó.
Hừóng dẫn làm bài
  1. Nguyên nhân
  •  Thời điểm Liên Xô bước vào cải tổ (1985) đã là muộn nhưng các nước Đông Âu vẫn giữ nguyên cơ chế cũ.
  •  Các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước Đông Âu cho rằng chẳng có gì sai sót để để đổi mới. Ở các nước Đông Âu, một số nhà lãnh đạo tha hoá làm cho nhân dân bất bình.
  1. Diễn biến chính (những nét chính)
  •  Cuộc khủng hoảng sớm nhất ở Ba Lan (1978) sau đó lan sang các nước Đông Âu khác. Các thế lực chống Chủ nghĩa xã hội với sự tiếp sức của chủ nghĩa đế quốc bên ngoài, ra sức kích động công nhân bãi công, quần chúng biểu tình đòi cải cách kinh tế, chính trị, đa nguyên, đa đảng, tổng tuyển cử tự do (tiêu biểu là nhân dân Rumani đấu tranh vũ trang,..).
  1. Kết quả
  •  Các Đảng Cộng sản bị chia rẽ thành nhiều phe phái và mất chính quyền qua các cuộc tổng tuyển cử tự do. Hệ thống thế giới của Chủ nghĩa xã hội thực tế không còn tồn tại, các nước Đông Âu theo chế độ tư bản. Tháng 10/1990, Cộng hoà dân chủ Đức xác nhập vào Liên bang Đức.
Câu hỏi 94.
  1.  Phân tích những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng rồi sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Nguyên nhân nào là chủ yếu nhất ? Vì sao ?
  2. Sự sụp    đổ của Liên Xô và các   nước xã  hội  chủ nghĩa  Đông Âu có   phải là  sự cáo chung   của
chủ nghĩa xã hội không ? Giải thích vì sao ?
  1. Từ công cuộc cải tổ thất bại của Liên Xô, anh (chị) có thể rút ra bài học kinh nghiệm như thế nào cho công cuộc đổi mới đất nước Việt Nam từ năm 1986 - 1991 ? Thế hệ thanh niên Việt Nam có suy nghĩ gì và hành động như thế nào trước những biến động của tình hình thế giới và Việt Nam hiện nay ?
Hướng dẫn làm bài
♦♦♦ Trong những năm 1989 - 1991 chế độ chủ nghĩa xã hội đã bị sụp đỗ ở hầu hết các nước Đông Âu và chế độ mới được dựng lên với những nét chung nổi bật là: tuyên bố từ bỏ Chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ           nghĩa                           xã hội ,          thực   hiện  đa nguyên về chính trị  và chế độ  đa  đảng; chủ trương xây
dựng nhà nước pháp quyền đại nghị và nền kinh tế theo cơ chế thị trường với nhiều hình thức sở hữu; hầu hết các Đảng cuả giai cấp công nhân ở các nước Đông Âu đều đổi tên đảng và chia rẽ thành nhiều phe phái, nhiều tổ chức với tên gọi khác nhau; tên nước quốc kì, quốc huy và ngày quốc khánh đều thay đổi theo hướng gọi chung là các nuớc Cộng hoà.
1. Nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ cuả chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu:
  • Một là, mô hình chủ nghĩa xã hội đã xây dựng có nhiều khuyết tật và thiếu sót. Như không phù hợp với quy luật khách quan trên nhiều mặt phát triển kinh tế xã hội, chủ quan duy ý chí, thực hiện cơ
chế tập trung - quan liêu về chính trị, bao cấp về kinh tế, làm cho nền kinh tế đất nước thiếu tính năng động và thiếu mềm dẻo trong phát triển, do đó dẫn đến tình trạng thụ động xã hội, thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm pháp chế chủ nghĩa xã hội .... Tình trạng đó kéo dài đã làm tăng lờng bất mãn trong quần          chúng,     sản  xuất          đình          trệ,                   đời       sống       nhân dân không được                                  cải thiện.  Mặt  khác, các  nước
Đông Âu áp dụng mô hình cuả Liên Xô một cách máy móc, không phù hợp với đặc điểm dân tộc làm cho quần chúng phản ứng.
  • Hai là, tách rời với những tiến bộ văn minh thế giới nhất là khoa học - kĩ thuật.
  • Ba là,  chậm thay đổi  trước  những  biến động  lớn  cuả tình hình   thế giới  (Liên Xô    bị khủng
hoảng từ lâu nhưng mãi đến năm 1985 mới bắt đầu cải tổ và các nhà lãnh đạo Đông Âu cho rằng chủ nghĩa xã hội là ưu việt không có gì sai sót mà sửa chữa). Sau khi sửa chữa lại nguyên lí đúng đắn cuả chủ nghĩa Mác-Lênin.
  •  Bốn là, về văn hoá - tư tưởng, những sai lầm cùng sự tha hoá về phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng cuả một số người lãnh đạo đảng và nhà nước ở một số nước chủ nghĩa xã hội . Bên cạnh đó, không thường xuyên giáo dục những lí tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội khoa học cho nhân dân, đặc biệt cho thanh thiếu niên, đã làm cho nhân dân mất phương hướng và niềm tin.
  •  Năm là, Hoạt động chống phá cuả các thế lực chống chủ nghĩa xã hội trong và ngoài nước liên tục phát triển...
♦♦♦ Các nhà nghiên cứu nhiều nước đều thừa nhận có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của Liên Xô nhưng họ lại nhấn mạnh nguyên nhân chính, quan trọng nhất trong số những nguyên nhân đó. Chẳng hạn :
  • Theo Diuganốp - chủ tịch Đảng Cộng sản Liên bang Nga (thành lập tháng 2/1993 - kế thừa Đảng Cộng sản Liên Xô) "Nguyên nhân là sự độc quyền của sở hữu nhà nước (hình thức sở hữu nôna trang tập thể thực tế là một sự biến dạng của sở hữu nhà nước) đã gây trở ngại cho sự phát triển xã hội, vì nó làm mất đi nhu cầu khách quan về sự hoàn thiện sản xuất, áp dụng những công nghệ mới và kích thích lao động ... Sở hữu nhà nước đã tạo điều kiện cho sự hình thành một hệ thống chính trị nghiêm ngặt và hệ thống này đã có dạng hoàn chính vào cuối những năm 70... Chức năng chủ yếu của nó là bảo vệ, ngăn cản bất kì âm mưu nào muốn thay đổi nguyên trạng đã được hình thành"
  • Theo tác giả Thẩm Kí Như (Trung Quốc), Liên Xô đã phạm phải ba sai lầm lớn là:
+ Chiến lược tranh giành bá quyền với Mĩ
+ Cải cách kinh tế nhiều lần thất bại + Chính sách đàn áp trong nước (mất dân chủ)
  • Tháng 9/2000, Giáo sư Alexander Lilov (Bungari) lại cho rằng "nguyên nhân quan trọng nhất là cải tổ thiếu một chiến lược tích cực được tính toán sâu sắc ..." hoặc "không có một hệ tư tưởng nghiêm túc cho "cải tổ". Cải tổ không sinh ra những tư tưởng mới. Nó không tạo ra những nhà lí luận lớn... Cải tổ không đưa ra được những chính trị gia và những nhà hoạt động nhà nước ở tầm lịch sử, không tạo ra những nhân vật lịch sử lớn..., sự vắng bóng thủ lĩnh là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất của sự thất bại trong cải tổ" .
2. Nhân xét:
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu không phải là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội không. Tuy đây là một thất bại nặng nề cuả chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, dẫn đến hậu quả là hệ thống thế giới cuả chủ nghĩa xã hội thực tế không còn tồn tại nữa nhưng đây chỉ là mô hình chủ nghĩa xã hội chưa khoa học, một bước lùi tạm thời. Bởi vì trong lịch sử xã hội loài người việc xác lập một phương thức sản xuất tiên tiến chưa bao giờ diễn ra nhanh chóng dễ dàng theo một con đường thẳng tắp mà luôn gặp những khó khăn, trắc trở (Ví dụ: Cách mạng pháp 1789 phải trải qua 5 chế độ cộng hoà sau đó chủ nghĩa tư bản mới được xác lập). Vì vậy Lê-nin nói: “Nếu người ta nhận xét thực chất vấn đề thì có bao giờ người ta thấy rằng trong lịch sử có một phương thức sản xuất mới được xác lập lại đứng vững được mà không liên tiếp trải qua nhiều thất bại và những sai lầm tái phạm ”.
- Từ công cuộc cải tổ thất bại của Liên Xô, một số bài học kinh nghiệm được rút ra cho công cuộc đổi mới đất nước Việt Nam từ năm 1986 -1991 là :
+ Cần phải xây dựng một chế độ chủ nghĩa xã hội khoa học đầy tính nhân văn phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống cuả mỗi quốc gia bằng cách vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học vào từng hoàn cảnh cụ thể ; luôn luôn cảnh giác với mọi âm mưu cuả các Đế quốc; phải luôn nâng cao vai trò lãnh đạo cuả Đảng Cộng sản...
+ Nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra cho các nước chủ nghĩa xã hội đang tiến hành công cuộc cải cách đổi mới, nhằm xây dựng chế độ một chế độ chủ nghĩa xã hội đúng với bản chất nhân văn vì sự giải phóng và hạnh phúc con người, phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống văn hoá cuả mỗi dân tộc.
+ Ngọn cờ của chủ nghĩa xã hội đã từng tung bay trên những khoảng trời rộng lớn, từ bờ sông Enbơ đến bờ biển Nam Hải rồi vượt trùng dương rộng lớn đến tận hòn đảo Cuba nhỏ bé anh hùng. Ngọn cờ ấy tuy có dừng tung bay ở bầu trời Liên Xô và một số nước Đông Âu nhưng rồi đây lại sẽ tung bay trên nhiều khoảng trời mênh mông xa lạ : Bầu trời Đông Nam Á, bầu trời châu Phi, Mĩ Latinh và cả trên cái nôi ồn ào, náo nhiệt của chủ nghĩa tư bản phương Tây....Đó là mơ ước của nhân loại tiến bộ và đó cũng là quy luật phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người.
- Thế hệ thanh niên Việt Nam có suy nghĩ gì và hành động như thế nào trong bối cảnh và tình hình thế giới hiện nay:
+    Sự thất bại  của chủ  nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu không làm     giảm  sút niềm tin  của
nhân dân vào sự thắng lợi sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội với mục tiêu: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
+ Vì vậy đòi hỏi thế hệ trẻ hãy vững tin và có những đóng góp cho sự thành công đó. Chúng ta tin rằng lý tưởng chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại và nhất định sẽ chiến thắng.
Câu hỏi 95.
Vai trò của Liên bang Nga từ sau năm 1991 trong việc xác lập quan hệ quốc tế mới ?
(Đề thi Học sinh giỏi Quốc gia - Bảng A, năm 2001) Hừóng dẫn làm bài
Liên bang Nga là quốc gia kế thừa địa vị pháp lý của Liên Xô trong quan hệ quốc tế.
  • Về kinh tế: từ 1990 - 1995, tăng trưởng bình quân hằng năm của GDP là số âm. Giai đoạn 1996 - 2000 bắt đầu có dấu hiệu phục hồi (năm 1990 là -3,6%, năm 2000 là 9%).
  • Về chính trị:
+ Tháng 12.1993, Hến pháp Liên bang Nga được ban hành, quy định thể chế Tổng thống Liên
bang.
+ Từ năm 1992, tình hình chính trị không ổn định do sự tranh chấp giữa các đảng phái và xung đột sắc tộc, nổi bật là phong trào ly khai ở Trécnia.
  •  Về đối ngoại: Một mặt thân phương Tây, mặt khác khôi phục và phát triển các mối quan hệ với châu Á.
  •  Từ năm 2000, tình hình nước Nga có nhiều chuyển biến khả quan: kinh tế dần hồi phục và phát triển, chính trị và xã hội ổn định, vị thế quốc tế được nâng cao. Tuy vậy, nước Nga vẫn phải đương đầu với nhiều thách thức: nạn khủng bố, li khai, việc khôi phục và giữ vững vị thế cường quốc Á - Âu ...
  • Vai trò của Liên bang Nga từ sau năm 1991 trong việc xác lập quan hệ quốc tế mới : Liên bang Nga kế thừa những thành tựu của Liên Xô trước đây và quá trình điều chỉnh trong đường lối đối ngoại nên từ năm 1991 đến nay, Liên bang Nga dần dần có tiếng nói tích cực trong mối quan hệ quốc tế mới.
Câu hỏi 96.
Anh (chị) hãy phân tích những thành tựu chủ yếu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước chủ nghĩa xã hội Đông Âu từ năm 1945 đến nữa đầu những năm 70, qua việc thiết lập bảng so sánh sau đây và nêu nhận xét :
Thời gian Thành tựu của Liên Xô Thành tựu của Đông Âu
Từ năm 1945 đến năm 1950    
Từ năm 1950 đến nửa đầu những năm 70    
Hướng dẫn làm bài
 

Thời gian Thành tựu của Liên Xô Thành tựu của Đông Âu
Từ năm 1945 đến năm 1950
  • Hoàn thành kế hoạch khôi phục kinh tế hàn gắn vết thương chiến tranh (năm 1950 tổng sản lượng công nghiệp tăng 73% so với trước chiến tranh, hơn 6200 xí nghiệp được phục hồi hoặc mới xây dựng đi vào hoạt động.
  • Một số ngành sản xuất nông nghiệp cũng vượt mức trước chiến tranh; năm 1949 chế tạo thành công bom nguyên tử...).
  • Đến những năm 1948-1049, các nước Đông Âu hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân bước vào thời kì xây dựng xã hội chủ nghĩa.
  • Đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực phản động trong và ngoài nước.
Từ năm 1950 đến nửa đầu những năm 70 + Hoàn thành kế hoạch 5 năm (1951-1975).
+ Năm 1950 đến 1973, Liên Xô tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và đã đạt được những thành tựu cơ bản như sau:
  • về công nghiệp: từ thập niên 1960 đến đầu những năm 1970, Liên Xô là cường quốc công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới (sau Mĩ), chiếm khoảng 20% tổng sản lượng công nghiệp toàn thế giới. Sản lượng một số ngành công nghiệp quan trọng như điện lực, dầu mỏ, than, thép đạt mức cao nhất thế giới, đi đầu trong một số ngành công nghiệp mới như công nghiệp vũ trụ, công nghiệp điện nguyên tử.
  • về nông nghiệp: sản lượng nông phẩm trong những năm 60 tăng trung bình 16% hàng năm. Năm 1970 đạt 186 triệu tấn ngũ cốc.
  • Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật: chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao trong các lĩnh vực lý, hóa, điện tử, vũ trụ. Năm 1957, Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo. Năm 1961, Liên Xô phóng con tàu vũ trụ Phương Đông đưa nhà du hành vũ trụ Gagarin bay vòng quanh trái đất, mở đầu kỷ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người, sau đó đã tiến hành nhiều chuyến bay dài ngày trong vũ trụ.
  • về mặt xã hội: Năm 1971 công nhân chiếm hơn 55% số người lao động trong cả nước. Nhân dân Liên Xô có trình độ học vấn cao, với gần % số dân đạt trình độ trung học và đại học.
  • về mặt quân sự. Đến đầu những năm 1970 Liên Xô đạt thế cân bằng chiến lược về sức mạnh quân sự nói chung và vũ khí hạt nhân nói riêng so với Mĩ và phương Tây
+ Hoàn thành nhiều kế hoạch 5 năm.
+ Đầu những năm 70 của thế kỹ 20, ở các nước Đông Âu, bộ mặt đất nước ngày càng thay đổi, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng thay đổi, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được tăng lên, mọi âm mưu phá hoại bị dập tắt.
+ Cải tạo chủ nghĩa xã hội , thiết lập các quan hệ sản xuất Chủ nghĩa xã hội và xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản.
+ Điển hình:
  • Anbani trước chiến tranh nghèo nàn lạc hậu nhất châu Âu nhưng đến 1970 đã điện khí hoá cả nước, sản xuất công nghiệp phát triển.
  • Bungari, sản xuất công nghiệp (1975) tăng 55 lần so với năm 1939, nông thôn đã điện khí hoá.
  • CHDC Đức năm 1072, sản xuất công nghiệp bằng cả nước Đức (1939)
  • Tiệp Khắc: năm 70, được xếp vào hàng các nước công nghiệp thế giới.
+ Có thể nói, trong thời kì này công nghiệp, văn hoá giáo dục ở các nước Đông Âu đạt mức cao ở Châu Âu lúc bấy giờ.
 



- Thành tựu là vĩ đại, nhưng sự sụp đỗ của chủ nghĩa xã hội Đông Âu và sự tan vỡ của nhà nước Liên Xô là sự đỗ vỡ của một mô hình chủnghĩa xã hội không phù hợp, chứ không phải là sự đổ vỡ của một lý tưởng, một phương thức sản xuất.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

global video
Thống kê
  • Đang truy cập53
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm52
  • Hôm nay6,810
  • Tháng hiện tại63,469
  • Tổng lượt truy cập1,623,391
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây