Chuyên mục giới thiệu

ĐĂNG KÝ NGAY ĐỂ CÓ CƠ HỘI KINH DOANH CÙNG GIÁO DỤC HẠNH PHÚC
  ĐỂ CÓ ĐƯỢC NHỮNG KHÓA HỌC HỮU ÍCH GIÚP BẠN TIẾP THU BÀI TRONG 5 PHÚT

Linh đăng ký:  https://giaoduchanhphuc.com/?hapy=92
Để đăng ký kinh doanh cùng giáo dục hạnh phúc bạn hãy nhấn vào Affiliate trên trang chủ và tiến hành đăng ký
zalo hỗ trợ: 0914789545

 

Khác biệt và gần gũi văn 6

Thứ năm - 31/03/2022 04:34
I. TRI THỨC NGỮ VĂN
Văn bản nghị luận
Văn bản nghị luận là văn bản chủ yếu dùng để thuyết phục người đọc (người nghe) về một vấn đề.
tải xuống (2)
tải xuống (2)
Các yếu tố cơ bản trong văn bản nghị luận
Văn bản nghị luận thường bàn về một hiện tượng, một vấn đề nhằm khẳng định ý kiến của người viết (người nói) về hiện tượng (vấn đề) đó. Để có sức thuyết phục, người viết (người nói) cần sử dụng lí lẽ và bằng chứng. Lí lẽ là những lời diễn giải có lí mà người viết (người nói) đưa ra để khẳng định ý kiến của mình. Bằng chứng là những ví dụ được lấy từ thực tế đời sống hoặc từ các nguồn khác để chứng minh cho lí lẽ.
Trạng ngữ
Trạng ngữ là thành phần phụ của câu, có thể được đặt ở đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu, nhưng phổ biến là ở đầu câu. Trạng ngữ được dùng để nêu thông tin về thời gian, địa điểm, mục đích, cách thức của sự việc được nói đến trong câu. Ngoài ra, trạng ngữ còn có chức năng liên kết câu trong đoạn.
Tác dụng của lựa chọn từ ngữ và cấu trúc câu đối với việc thể hiện nghĩa của văn bản
Để thề hiện một ý, có thề dùng những từ ngữ khác nhau, những kiểu cấu trúc câu khác nhau. Khi tạo lập văn bản, người viết thường xuyên phải lựa chọn từ ngữ hoặc cấu trúc câu phù hợp để biểu đạt chính xác, hiệu quả nhất điều muốn nói.
II. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT:
Văn bản (1)
XEM NGƯỜI TA KÌA
(Lạc Thanh)
1. Kiến thức khái quát:
* Tác giả: Lạc Thanh
* Tác phẩm:
Thể loại Văn bản nghị luận
Xuất xứ Tạp chí sông Lam số 8/2020
Bố cục
(4 phần)
- P1: Từ đầu …Có người mẹ nào không ước mong điều đó?: Giới thiệu vấn đề bàn luận.
- P2: Giải quyết vấn dề:
+ Tiếp đó đến “mười phân vẹn mười”: Lí do khiến mẹ muốn con giống người khác
+ Tiếp đó đến “gạt bỏ cái riêng của từng người”: Bằng chứng thế giới muôn màu muôn vẻ
- P4: còn lại: Kết thúc vấn đề.
Giá trị nội dung Bài văn “Xem người ta kìa!” bàn luận về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Con người luôn muốn người thân quanh mình được thành công, tài giỏi,... như những nhân vật xuất chúng trong cuộc sống. Tuy nhiên, việc đi làm cho giống người khác sẽ đánh mất bản thân mỗi người. Vì vậy chúng ta nên hòa nhập chứ không nên hòa tan.
Giá trị nghệ thuật Lập luận chặt chẽ, lí lẽ và dẫn chứng xác đáng cùng cách trao đổi vấn đề mở, hướng tới đối thoại với người đọc.
2. Kiến thức trọng tâm
2.1. Giới thiệu vấn đề bàn luận:
- Tác giả nêu vấn đề bằng cách kể một câu chuyện.
Đoạn văn dùng lời kể để giới thiệu vấn đề: “Giờ đây mẹ tôi đã khuất và tôi cũng đã lớn lên….. Có người mẹ nào trên đời không ước mong điều đó?”
- Câu văn nêu vấn đề: “Tôi đã hiểu ra, mỗi lần bảo tôi: “Xem người ta kìa” là một lần mẹ mong tôi làm sao để bằng người, không thua em kém chị, không làm xấu mặt gia đình, dòng tộc, không để ai phải phàn nàn, kêu ca điều .
- Sau đó tác giả khẳng định: lời của mẹ có lí( “Mà có lẽ không riêng gì mẹ tôi. Có người mẹ nào trên đời không ước mong điều đó?”)
- Nghẹ thuật: Tác giả dùng lời kể nêu vấn đề giúp tăng tính hấp dẫn, gây tò mò; bên cạnh đó tác giả còndùng nhiều lí lẽ và bằng chứng làm cho bài viết có tính thuyết phục cao.
2.2. Giải quyết vấn đề: Phân tích, bình luận, chứng mình vấn đề:
a. Trước tiên, tác giả diễn giải lí do cho thấy mẹ có lý khi muốn con giống người khác: muốn con hoàn hảo, mười phân vẹn mười (thông minh, giỏi giang, được tin yêu, tôn trọng, thành đạt…). Sự thành công của người này là ước mơ của người khác. Vì vậy, đã có những người cố gắng vượt lên chính mình nhờ noi gương những người tài giỏi, xuất chúng.
Đoạn văn diễn giải về vấn đề: “Mẹ tôi không phải không có lí khi đòi hỏi tôi phải lấy người khác làm chuẩn mực …. Là người hoàn hảo, mười phân vẹn mười”.
b. Sau đó, tác giả dùng bằng chứng để làm sáng tỏ vấn đề: thế giới muôn màu muôn vẻ và “Chính chỗ “không giống ai” nhiều khi lại là một phần rất đáng quý trong mỗi con người”.
- Đoạn văn dùng bằng chứng để làm sáng tỏ vấn đề: “Từ khi biết nhìn nhận và suy nghĩ, tôi dần dần hiểu ra rằng … nhiều khi lại là một phần rất đáng quý trong mỗi con người”
- Tác giả đã đưa ra những những ví dụ để làm sáng tỏ ý ở câu trên:
+ Trong lớp nhân vật “tôi”, các bạn học sinh đều mỗi người một vẻ vô cùng sinh động. Ngoại hình cao, thấp, béo, gầy, đen, trắng khác nhau, giọng nói khác nhau; thói quen, sở thích cũng khác nhau: người thích vẽ vời; người ưa ca hát, nhảy múa; người thì sôi nổi, nhí nhảnh hoặc kín đáo, trầm tư...
+ Người ta nói “học trò nghịch như quỷ” nhưng “quỷ” cũng chính là một thế giới, chẳng “quỷ” nào giống “quỷ” nào.
 => Nhận xét: Để có sức thuyết phục trong bài nghị luận này, tác giả đã sử dụng lý lẽ “không giống ai” nhiều khi lại là một phần rất đáng quý trong mỗi con người” để diễn giải và khẳng định ý kiến của mình. Bằng chứng là những ví dụ được tác giả nêu ra (3 ví dụ nêu trên) được lấy từ đời sống thực tế để chứng minh cho lý lẽ.
c. Tác giả đưa ra lí lẽ cho ý kiến rất thuyết phục đó là: “Ai cũng cần hoà nhập, nhưng sự hoà nhập có nhiều lối chứ không phải một. Mỗi người phải được tôn trọng, với tất cả những cái khác biệt vốn có. Sự độc đáo của từng cá nhân làm cho tập thể trở nên phong phú”.
2.3. Kết thúc vấn đề: Suy nghĩ của tác giả về câu nói của mẹ và tác giả bày tỏ ý kiến cá nhân.
- Suy nghĩ về câu nói của mẹ: hiểu, cảm thông cho mong muốn của mẹ.
- Tác giả nêu ý kiến: Biết hòa đồng, gần gũi mọi người, nhưng cũng phải biết giữ lấy cái riêng và tôn trọng sự khác biệt.
Đây là một ý kiến đúng bởi: Hòa đồng, gần gũi với mọi người thể hiện cách sống chan hòa, vui vẻ, có thiện chí, xây dựng mối quan hệ với bạn bè thể hiện sự tự tin trong giao tiếp và ứng xử của mỗi con người. Tuy nhiên cũng cần “sống thành thật với chính mình” nghĩa là “biết giữ lấy cái riêng và tôn trọng sự khác biệt”. Chính điều đó sẽ làm nên giá trị bản thân cho mỗi con người. Cũng chính nhờ việc giữ được những cái riêng sẽ càng làm cho con người hòa đồng, gần gũi với nhau nhiều hơn. 
* Đánh giá:
 Văn bản có nêu 2 khía cạnh: sự giống và khác nhau giữa mọi người. Nhưng ý nghĩa của sự khác nhau mới là điều mà văn bản muốn khẳng định. Từ đó thấy được tầm quan trọng của cá thể, của giá trị riêng biệt, độc đáo ở mỗi con người.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

global video
Thống kê
  • Đang truy cập31
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm30
  • Hôm nay3,350
  • Tháng hiện tại8,901
  • Tổng lượt truy cập3,693,516
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây