Kiếm tiền với Ola City
Ola city
Chuyên mục giới thiệu

ĐĂNG KÝ NGAY ĐỂ CÓ CƠ HỘI SỞ HỮU CỔ PHẦN
TẠI TẬP ĐOÀN SKYWAY

Linh đăng ký:  https://new.skyway.capital/auth/registration?partner_id=379172
Linh tìm hiểu về tập đoàn:  https://skyway.link-stats.site/?partner_id=379172
Lịnk trang chủ:  http://skyway.khobaitap.com
zalo hỗ trợ: 0914789545
 

BÀI 10: RỪNG XÀ NU (Nguyễn Trung Thành)

Thứ sáu - 25/06/2021 21:16
I/ ÔN KIẾN THỨC CƠ BẢN
A/ GIỚI THIỆU CHUNG
tải xuống (3)
tải xuống (3)
BÀI 10: RỪNG XÀ NU (Nguyễn Trung Thành)
I/ ÔN KIẾN THỨC CƠ BẢN
A/ GIỚI THIỆU CHUNG
1/ Tác giả, tác phẩm.
     Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông có những trang viết đặc sắc về con người và thiên nhiên vùng đất Tây Nguyên. Trong số đó, tác phẩm tiêu biểu nhất mà ông viết trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ là truyện ”Rừng xà nu.” (nêu vấn đề theo đề ra)
2/ Xuất xứ, nội dung tác phẩm.
 Tác phẩm được đăng trên tạp chí “Văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ” năm 1965, sau đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện  Ngọc. Truyện miêu tả rừng xà nu và kể chuyện Tnú sau ba năm đi lực lượng về thăm làng. Tối hôm đó, tại nhà cụ Mết, dân làng mừng đón Tnu. Cụ Mết kể cho dân làng nghe câu chuyện về cuộc đời Tnu1 và cuộc nổi dậy của làng Xô Man chống lại kẻ thù bạo tàn. Sáng hôm sau, cụ Mết và Dít tiễn Tnú trở về đơn vị.
B/ NỘI DUNG,NGHỆ THUẬT CHI TIẾT.
Theo chuẩn KTKN:
Phân tích hình tượng rừng xà nu; hình tượng nhân vật Tnú. Chất sữ thi thể hiện qua cốt truyện, bút pháp xây dựng nhân vật , giọng điệu và vẻ đẹp ngôn ngữ của tp.
Bài tập tự học: phân tích các nhân vật: cụ Mết, Dít, bé Heng.
 Tóm tắt
Mở đầu truyện là cảnh rừng xà nu bạt ngàn đứng trong “tầm đại bác ”của giặc, đang ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng Xô Man. Sau 3 năm đi lực lượng, Tnú được cấp trên cho phép về thăm làng một đêm. Bé Heng nay đã trở thành một giao liên chững chạc, nhanh nhẹn. Dít nay đã trở thành bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội vững vàng. Đêm hôm đó, cụ Mết đã kể cho cả dân làng nghe về cuộc đời Tnú. Hồi đó Mĩ Diệm khủng bố gắt gao, Tnú cùng Mai tham gia nuôi giấu anh Quyết- cán bộ cách mạng- từ nhỏ. Giặc bắt Tnú sau 3 năm anh lại vượt ngục Kon Tum trở về. Lúc này anh Quyết đã hi sinh, Tnú lấy Mai. Anh tiếp tục cùng dân làng mài giáo mác chuẩn bị chiến đấu. Giặc nghe tin, chúng về làng càn quét, khủng bố. Kẻ thù bắt vợ con anh, tra tấn tàn bạo ngay trước mắt anh. Căm hờn cháy bỏng, Tnú đã nhảy xổ ra giữa bọn lính nhưng cũng không cứu được mẹ con Mai. Giặc bắt anh, quấn giẻ tẩm dầu xà nu đốt mười đầu ngón tay anh. Cụ Mết cùng thanh niên trong làng đã  nổi dậy giết sạch bọn lính cứu Tnú. Sau đó anh gia nhập lực lượng quân giải phóng. Câu chuyện kết thúc bằng cảnh cụ Mết  và Dít tiễn Tnú trở lại đơn vị, trước mắt họ là những cánh rừng xà nu nối tiếp đến tận chân trời.
  Ý nghĩa nhan đề
-Nhan đề là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn. Hình ảnh rừng xà nu là linh hồn của tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo và dụng ý nghệ thuật của nhà văn được khơi nguồn từ hình ảnh này.
- Rừng xà nu là hình ảnh trung tâm có vẻ đẹp riêng, gắn bó mật thiết với cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân Tây Nguyên, biểu tượng cho những phẩm chất cao đẹp của con người Tây Nguyên: sức sống mãnh liệt, kiên cường, bất khuất, khao khát tự do.
- Nhan đề còn gợi chủ đề, cảm hứng sử thi cho truyện ngắn.
                
 PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG CÂY XÀ NU

1/ Phân tích đặc điểm hình tượng.
a/  Rừng xà nu là vẻ đẹp tiêu biểu của núi rừng Tây Nguyên. Đó là lòai cây có “hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Còn màu sắc của nó thì “xanh rờn”, mùi hương lại “thơm ngào ngạt” hay “thơm mỡ màng”. Không chỉ vậy, xà nu còn là loài cây ham ánh sáng mặt trời, “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”.  Nhưng trong núi rừng Tây Nguyên ấy, xà nu cũng chính là lòai cây bị giặc tàn phá, hủy diệt nhiều nhất. Vì “cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”, có những cây nhỏ, trúng đạn của giặc “vết thương không lành…năm mười hôm thì cây chết.” Xà nu cũng là lòai cây có sức sống mạnh mẽ và sức sinh sôi nảy nở diệu kì: “Trong rừng, ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy, cạnh một cây mới ngã gục có bốn năm cây con mọc lên”. Có thể nói, bằng sự quan sát tinh tế, kết hợp miêu tả với nhiều hình ảnh so sánh…tác giả đã làm tái hiện trước mắt người đọc vẻ đẹp của những cành rừng xà nu ở Tây Nguyên.
b/  Chính vì vậy nên xà nu là lòai cây gắn bó mật thiết với cuộc sống sinh họat và chiến đấu của dân làng Xô Man. Cây xà nu không chỉ có mặt trong đoạn mở đầu và đoạn kết, mà nó còn hiện diện trong suốt câu chuyện về Tnú và làng Xô Man của anh. Xà nu gắn bó với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như đã từ ngàn đời nay thân thuộc với dân làng: ngọn lửa xà nu “cháy giần giật” trong mỗi bếp, lửa xà nu cháy bập bùng trong nhà ưng khi tập trung cả dân làng. Khói xà nu xộng tấm bảng đen cho anh Quyết dạy Tnú, Mai học chữ cụ Hồ.  Dân làng mừng đón Tnú trở về thăm làng dưới ánh lửa xà nu. Lửa xà nu còn tạo một không khí thiêng liêng trong buổi cụ Mết kể chuyện đời Tnú để giáo dục tinh thần yêu nước, kiên cường bất khuất cho dân làng. Khi Tnú trở về đơn vị, anh được cụ Mết và Dít đưa ra đến tận “rừng xà nu cạnh một con nước lớn”.
   Xà nu còn tham dự vào những sự kiện quan trọng của dân làng Xô Man. Ngọn đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết dẫn thanh niên đi vào rừng lấy giáo mác đã giấu kỹ về chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Đêm đêm cả dân làng thức mài vũ khi dưới ánh đuốc xà nu. Giặc đốt hai bàn tay Tnú bằng “giẻ tẩm dầu xà nu”. Chính ngọn lửa xà nu ấy và tiếng hét của Tnú đã đốt lên lòng căm thù trong lòng người dân Xô Man. Rồi ngọn lửa đuốc xà nu soi sáng rực cả làng cái đêm khởi nghĩa ấy. Dưới ngọn lửa sang rực lấp loáng ánh giáo mác, những tiếng “giết” vang lên, tiếng chân người đạp trên nhà ưng ào ào, tiếng cụ Mết ồ ồ: “Chém! chém hết.” Và lửa xà nu vẫn cháy, soi rõ “xác mười tên lính nằm ngổn ngang quanh đống lửa …” Nghĩa là lửa xà nu đã thành nhân chứng trong cuộc nổi dậy của làng Xô Man và chứng kiến kẻ thù đền tội. Cây xà nu gắn bó với cuộc sống của người dân làng Xô Man đến mức nó đã thấm sau vào nếp nghĩ và cảm xúc của họ. Chẳng hạn, khi cảm nhận về cụ Mết, Tnú thấy ngực cụ “căng như một cây xà nu lớn”.Và trong câu chuyện kể về Tnú, cụ Mết cũng nói về cây xà nu với tất cả tình cảm yêu thương, gần gũi xen lẫn tự hào: “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta.” Như vậy, cây xà nu trở thành một phần máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của mảnh đất này.
 c/ Cây xà nu tượng trưng cho số phận và phẩm chất của nhân dân Tây Nguyên trong chiến tranh cách mạng: đau thương mà anh dũng..
 Hình tượng cây xà nu, qua ngòi bút Nguyễn Trung Thành, đã trở thành một nhân chứng về tội ác của chiến tranh hủy diệt. Mở đầu tác phẩm, tác giả đã vẽ ra trước mắt người đọc một bức tranh toàn cảnh về nỗi đau thương đội bom đạn giặc Mỹ gây ra. Tác giả đã đặt ngay cây xà nu vào bối cảnh khốc liệt của chiến tranh “ Làng nằm trong tầm đại bác của giặc…”. Cây xà nu vừa là người chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh, vừa là đối tượng hủy diệt của bom đạn kẻ thù: Cả rừng xà nu hàng vạn cây, không cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang thân mình, đổ ào như một cơn bão”. Ở một chỗ khác, tác giả tả kỹ hơn: nơi chỗ vết thương “nhựa ứa ra … rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Có những cây con vừa mới lớn ngang tầm ngực người, bị đạn đại bác “chặt đứt làm đôi”. Ở những cây ấy, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, “năm mười hôm thì cây chết”. Hình ảnh đó gợi lên nỗi đau thương mất mát đau thương của dân làng Xô Man. Đó là khi giặc về đóng lại trong làng, “ngọn roi của nó không từ một ai”; đó là hình ảnh anh Xút bị chúng treo cổ, bà Nhan bị chặt đầu, Mai và đứa con nhỏ bị đánh chết bằng gậy sắt. Chưa hết, nỗi đau thương còn in trên thân thể Tnú khi chúng tra tấn anh, đốt mười đầu ngón tay anh khiến mỗi ngón chỉ còn hai đốt.
   Đặc tính ham ánh sáng của cây xà nu tượng trưng cho lòng khát khao tự do, lòng tin vào lí tưởng cách mạng của người dân Tây Nguyên, của đồng bào miền Nam trong kháng chiến. Cây xà nu rất ham ánh sáng và khí trời. Trong rừng, “ít loạt cây nào ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”. Cây xa nu cũng như Tnú, như dân làng Xô Man yêu tự do, khát khao ánh sáng. Trong mọi hòan cảnh, họ luôn trung thành với cách mạng, với Đảng. Họ thay nhau nuôi giấu những người cán bộ như anh Quyết; họ mài giáo để khởi nghĩa, đòan kết xông lên giết cả một tiểu đội giặc. Họ sống với phương châm “chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo”.
   Khả năng sinh sôi mãnh liệt của cây xà nu gợi nghĩ đến sự tiếp nối của nhiều thế hệ người dân Tây Nguyên đoàn kết bên nhau trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Bất chấp sự hủy diệt tàn khốc của bom đạn kẻ thù, xà nu vẫn sinh sôi, tồn tại: “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có  bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn như mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Đó phải chăng cũng chính là các thế hệ làng Xô Man, lớp này kế tiếp lớp khác đứng lên, tiếp tục cuộc chiến đấu:
 “Tuốt gươm không chịu xuống quỳ
   Tuổi xanh chẳng tiếc sá chi bạc đầu
   Lớp cha trước, lớp con sau
  Đã thành đồng chí chung câu quân hành
                                                   (Tố Hữu)
Trước đây, cụ Mết cũng từng chống giặc Pháp. Còn nay, trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, anh Quyết hy sinh thì có Tnú, Mai. Mai ngã xuống giữa tuổi xuân đang tràn đầy nhựa sống như cây xà nu bị chặt đứt ngay giữa thân mình, thì Dít đã lớn lên, và nhanh chóng trở thành Bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội. Rồi những bé Heng, thế hệ tiếp theo của Dít, cũng đang lớn lên tiếp bước đàn anh. Chính cụ Mết cũng đã khẳng định được sức sống bất tử ấy như một chân lí giản dị: “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta, cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”.  
   Sự tồn tại kì diệu của rừng xà nu trước những hành động hủy diệt của kẻ thù tượng trưng cho sức sống bất diệt, sự bất khuất, kiên cường và sự vươn lên mạnh mẽ của con người Tây Nguyên trong cuộc chiến với kẻ thù.  Nhiều cây xà nu đã chết vì trúng bom đạn của kẻ thù. Nhưng ở rừng xà nu còn xuất hiện những cây khác vững chãi, “đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng.” Không chịu khuất phục trước giông bão, đạn bom của giặc, rừng xà nu vẫn “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng”. Tất cả nối tiếp nhau tạo thành một đội ngũ trùng trùng điệp điệp như rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời. Cho dù bị kẻ thù bắt bớ, tra tấn dã man, để lại thương tích trên than thể, nhưng những người dân Xô Man và Tnu1 vẫn tiếp tục vươn lên, đấu tranh không ngừng để làm chủ vận mệnh của mình. Trong đau thương, người dân Tây Nguyên vẫn anh dũng chiến đấu. Và họ đã góp một phần không nhỏ trong chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
   2/ Hình tượng cây xà nu được xây dựng bằng nghệ thuật độc đáo. Nhà văn đã dùng những thủ pháp nhân hóa, so sánh, ẩn dụ rất điêu luyện; bút pháp tả thục kết hợp với tượng trưng; giọng văn mang đậm chất sử thi. Điều đó đã tạo nên sự chuyển hóa, hòa hợp giữa hình tượng thiên nhiên và con người, tạo nên một bản hợp xướng đầy chất thơ hào hùng tráng lệ về sức sống bất diệt và cuộc chiến đấu bất khuất kiên trung của nhân dân Tây Nguyên .  
  3/ Kết luận chung và ý nghĩa của hình tượng
       Tóm lại, hình tượng cây xà nu được khắc họa đặc sắc với hai đặc điểm: cây xà nu gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của người dân làng Xô Man, cây xà nu tượng trưng cho số phận và phẩm chất của nhân dân Tây Nguyên trong chiến tranh cách mạng. Đây là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Trung Thành; là một ẩn dụ gợi cho người đọc nghĩ đến con người Tây Nguyên yêu tự do, dồi dào sức sống, bất khuất kiên trung, thủy chung với cách mạng. Như vậy, hình tượng cây xà nu rất giàu tính chất thẩm mỹ và ý nghĩa nhân sinh, trở thành linh hồn tác phẩm. Vì vậy, tác giả đã đặt cho truyện của mình cái tên thật có ý nghĩa: “Rừng xà nu”.
.

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT TNÚ


1/  Phân tích đặc điểm hình tượng.
Vào một đêm ngoài rừng mưa rì rào như gió nhẹ, dưới ánh lửa xà nu bập bùng, tất cả dân làng Xô Man nghe cụ Mết, một già làng có thân hình vạm vỡ, quắc thước, mắt sáng xếch ngược, râu rài ngang ngực, kể về cuộc đời đầy bi hùng của Tnú.
  a/  Tnú là người gan góc, dũng cảm, mưu trí. Đó là  một thiếu niên có nhiều phẩm chất tốt đẹp. Tnú là người con của dân làng Xô Man, cha mẹ mất sớm và được dân làng cưu mang, nuôi dưỡng. Cũng như người dân làng, annh "có cái bụng thương núi, thương nước". Theo lời kể của cụ Mết thì: “Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta.”
   Phẩm chất tốt đẹp nhất ở Tnú là tinh thần dũng cảm, yêu quê hương đất nước. Phẩm chất ấy được thể hiện rõ khi Tnú tham gia vào công việc nuôi cán bộ. Anh cán bộ ở trong rừng lúc ấy là anh Quyết. Làng Xô Man vẫn tự hào: “Năm năm, chưa có một cán bộ nào bị bắt hay giết trong rừng làng này”. Bọn giặc cấm đoán, vây lùng, khủng bố dã man: cấm vào rừng, chặt đầu những người đi nuôi cán bộ như anh Xút, bà Nhan. Bất chấp điều đó, Tnú đã cùng với Mai xung phong vào rừng bảo vệ  anh Quyết, một cán bộ trung kiên của Đảng. Khi anh Quyết hỏi: “Các em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Xút, bà Nhan đó”, Tnú đã trả lời bằng việc nhắc lại lời cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Nghĩa là Tnú hiểu rằng: bảo vệ cán bộ, nghĩa là bảo vệ bản làng của mình. Tnú quyết tâm học cho được cái chữ Cụ Hồ để trở thành cán bộ giỏi thay anh Quyết, nếu không may anh Quyết bị hy sinh. Nhưng Tnú học chữ hay quên. Bởi vậy, khi học chữ thua Mai, Tnú đã tự trừng phạt cái tội hay quên của mình bằng cách "cầm hòn đá tự đập vào đầu mình máu chảy ròng ròng". Hành động này có cái gì đó hơi nóng nảy, nông nổi   nhưng nó biểu lộ ý chí, quyết tâm sắt đá của một con người có chí khí, vì không học được chữ nên tự trừng phạt mình cho đau, cho nhớ mà cố gắng hơn.
Làm liên lạc, chuyển thư cho anh Quyết, Tnú là một thiếu niên thông minh táo bạo. Vốn là con người nhanh trí, thích mạo hiểm, Tnú không bao giờ đi đường mòn. Bị giặc vây các nẻo đường, Tnú leo lên cây cao rồi xé rừng mà đi, vượt qua mọi vòng vây. Tnú không vượt qua suối ở những nơi nước cạn, mà “lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang”, vượt lên mặt nước, “cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình”. Có lần chuẩn bị vượt qua thác, thì họng súng đen ngòm đã chĩa vào gáy  lạnh ngắt. Tnú kịp nuốt lá thư của anh Quyết vào bụng để đảm bảo bí mật. Tnú bị giặc giam cầm ở ngục tù Kon Tum với biết bao đòn roi, thương tích. Địch tra tấn hỏi "Cộng sản ở đâu?" Tnú đã không ngần ngại đặt tay lên bụng và nói: "Cộng sản ở đây này!". Tnú quả là con người rất trung thành với cách mạng, bất khuất hiên ngang trước kẻ thù.
    b/ Tnú có một trái tim yêu thương, tình nghĩa với gia đình, dân làng; đồng thời trong tim anh luôn sục sôi ba mối thù: thù của bản thân, thù của gia đình và thù của buôn làng. Ba năm sau, Tnú vượt ngục trở về. Lúc này, anh Quyết đã hi sinh. Trước lúc hi sinh, anh động viên dân làng chuẩn bị vũ khí chiến đấu. Tnú trực tiếp lãnh đạo dân làng Xô Man đánh giặc. Mai lúc này đã là vợ của Tnú. Đứa con trai kháu khỉnh vừa đầy tháng là hoa trái đầu mùa của mối tình thơ mộng và thủy chung ấy. Thay anh Quyết, Tnú là cán bộ giỏi, khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Nghe theo lời dặn của anh Quyết, Tnú cùng cụ Mết lãnh đạo dân làng Xô Man mài giáo mác cất giấu trong rừng. Thằng Dục, chỉ huy của bọn giặc điên cuồng: “Lại thằng Tnú chứ không ai hết. Con cọp đó mà không giết sớm” thì núi rừng này loạn mất.
Anh là người chồng, người cha đầy trách nhiệm. Giặc kéo về bao vây làng, Tnú cùng cụ Mết và thanh niên lánh vào rừng, bám theo giặc. Không bắt được anh, chúng đã dùng kế sách nham hiểm và hèn hạ. Thằng lính giặc to béo đã tra tấn dã man vợ con anh bằng cây gậy sắt, hòng uy hiếp tinh thần cách mạng của Tnú, người cầm đầu của cuộc nổi dậy. Đoạn văn diễn tả sự bất lực của Tnú trước cái chết của vợ con thật bi thương, tràn đầy xúc cảm và ấn tượng :"Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay”. Khi không nghe tiếng thét của vợ con nữa, anh “chồm dậy”. Cụ Mết níu vai Tnu1, cản anh lại. Nhưng khi thấy “chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn", ông cụ buông vai Tnú ra. Tnú thét lên một tiếng dữ dội, anh “nhảy vào giữa đám lính”. Anh không biết mình đã làm gì, chỉ thấy “thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân”. Thằng Dục chạy vào nhà ưng, tiếng lên đạn lách cách quanh anh. Mai ôm đứa con chui vào ngực Tnú. Hai cánh tay như cánh gỗ lim của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Nhưng không còn kịp nữa, Tnú “không cứu sống được mẹ con Mai.” Tnú bị bắt, bị trói, ném vào góc nhà ưng.
Khi bị trói, Tnú thể hiện bản chất của một người hết lòng vì sự nghiệp cách mạng. Nằm trong góc nhà, Tnú thấy mình thật bình thản.. Trước cái chết cận kề, Tnú không hề run sợ. Anh nghĩ "Đứa con chết rồi. Mai chắc cũng đã chết. Mình rồi cũng chết thôi". Nhưng Tnú không sợ, điều làm Tnú day dứt và băn khoăn nhất chính là khi có lệnh của Đảng, ai sẽ lãnh đạo dân làng Xô Man đánh giặc ? Lúc đã có câu trả lời: ”còn có bọn thanh niên”, có “con Dít sẽ lớn lên”, thì anh thấy tiếc vì “không sống được tới ngày cầm vũ khí đứng dậy với dân làng”. Dường như Tnú hoàn toàn không nghĩ đến mình nữa, Tnú đã đặt cái chung, đặt nhiệm vụ lên trên bi kịch của mình. Đó là thái độ biến đau thương thành hành động.
   Bị kẻ thù tra tấn dã man, Tnú càng thể hiện bản lĩnh kiên cường của người cộng sản. Giặc dùng giẻ tẩm dầu xà nu để đốt mười đầu ngón tay của Tnú. Chúng định dùng lửa để thiêu rụi ý chí đấu tranh của dân làng. Nhưng chúng đã nhầm. Chúng đã vô tình thắp lên ngọn lửa đồng khởi, ngọn lửa đấu tranh của dân làng Xô Man. Mười ngón tay của Tnú nhanh chóng “thành mười ngọn đuốc”. Tnú đã thét lên một tiếng "Giết". Tiếng thét ấy làm rung chuyển núi rừng, làm lay động tâm can con người. Và cộng hưởng cùng tiếng thét ấy là tiếng chân người chạy rầm rập trên nhà ưng, tiếng cụ Mết ồ ồ: "Chém! Chém hết!", Tiếng thét ấy trở thành ngòi nổ làm bùng cháy cả khối thuốc nổ căm hờn của dân làng Xô Man. Trong phút chốc họ đã khiến kẻ thù phải đền tội: “xác mười tên giặc nằm ngổn ngang quanh đống lửa”.
 Tnú là cây xà nu trưởng thành, cường tráng, được tôi luyện trong đau thương , kẻ thù không thể sát hại được. Được dân làng cứu sống, trên đôi bàn tay của Tnú mỗi ngón chỉ còn hai đốt. Nhưng nói như lời cụ Mết thì ngón tay còn hai đốt “cũng bắn súng được”. Anh gia nhập quân giải phóng, bàn tay trở thành chứng tích của tội ác và lòng hận thù mà Tnú mang theo suốt cả cuộc đời.. Và cũng với chính bàn tay ấy, Tnú đã lập nhiều chiến công, giết nhiều kẻ thù hơn.
  c/ Tnú là người có tính kỉ luật cao, trung thành với CM. Khi đã trở thành chiến sĩ giải phóng quân, Tnú là một cán bộ có tinh thần kỷ luật cao. Tuy xa bản làng đã ba năm, nhớ quê hương gia đình, nhưng anh cũng chỉ về đúng một đêm như quy định trong giấy phép của cấp trên cho.  Sáng hôm sau, Tnú trở về đơn vị, cụ Mết và Dít lưu luyến tiễn chân anh ra đi trong cánh rừng xà nu “nối tiếp chạy đến chân trời.” Tính kỉ luật cao trong mối quan hệ với cách mạng biểu hiện thành long trung thành tuyệt đối trong mọi hoàn cảnh. Khi bị kẻ thù đốt mười đầu ngón tay, ngọn lửa như thiêu đốt gan ruột, “máu anh mặn chát ở đầu lưỡi... răng anh đã cắn nát môi anh rồi", nhưng người cộng sản ấy không hề kêu van nửa lời. Vì anh luôn tâm niệm lời anh Quyết: “Người cộng sản không thèm kêu van”. Lòng trung thành của Tnú cũng giống như cụ Mết. Nó trở thành niềm tin vững chắc vào Đảng, vào cách mạng: ”Đảng còn, núi nước này còn”. Mang theo niềm tin ấy, anh luôn tin vào ngày mai thắng lợi của dân tộc.  
  d/  Cuộc đời bi tráng của Tnú đã làm sáng tỏ một chân lí giản dị mà sâu xa của cuộc sống được cụ Mết truyền dạy cho con cháu: "sau này, tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo". Bi kịch của Tnú khi chưa cầm vũ khí là bi kịch của người dân Xô Man khi chưa giác ngộ chân lí. Tnú có thừa sức mạnh cá nhân, nhưng với bàn tay không có vũ khí trước kẻ thù hung bạo, anh đã không bảo vệ được vợ con và bản thân. Tnú chỉ được cứu khi dân làng đã cầm vũ khí đứng lên. Cuộc đời của Tnú là một minh chứng cho chân lí tất yếu: phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng. Con đường đấu tranh của Tnú từ tự phát đến tự giác cũng là con đường đấu tranh đến với cách mạng của làng Xô Man nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung.
 2/ Tác giả xây dựng nhân vật Tnú bằng nghệ thuật độc đáo. Cách trần thuật sinh động, đan cài câu chuyện về cuộc đời Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man; tạo nên giọng điệu, âm hưởng phù hợp với không gian Tây Nguyên. Nhà văn đã tô đậm không khí, chất sử thi bằng bức tranh thiên nhiên, bằng ngôn ngữ, tâm lí, hành động của nhân vật Tnú.
3/ Kết luận chung và ý nghĩa của hình tượng:
     Tóm lại, nhân vật Tnú có cuộc đời bi tráng: đau thương mà anh hùng. Qua nhân vật Tnú, tác giả ngợi ca tinh thần bất khuất, sức mạnh quật khởi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung trong thời đại đấu tranh giải phóng. Đồng thời, nhà văn cũng khẳng định chân lí của thời đại: để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân, không có con đường nào khác là phải cùng nhau cầm vũ khí đứng lên chống lại kẻ thù. Có được những giá trị trên là nhờ lời văn trau chuốt, giàu hình ảnh, biểu tượng, dùng phép lặp, lối kể chuyện sinh động và cách tạo không khí trang nghiêm cuả tác giả.
 
GỢI Ý BÀI TẬP TỰ HỌC.
a/ Cụ Mết là một già làng oai phong lẫm liệt. Mắt sáng và xếch. “Râu dài tới ngực” và vẫn đen bóng. Ông cụ ở trần, “ngực căng như một cây xà nu lớn”. Đã 60 tuổi mà tiếng nói vẫn ồ ồ vang dội trong lồng ngực ! Một lời khen "được" của ông cụ làm cho cả làng ai cũng hả dạ. Bàn tay nặng trịch "như một kìm sắt". Lúc cụ nói, mọi người đều im bặt, trẻ con im lặng thin thít. Cụ Mết đầy uy tín, là một thủ lĩnh tinh thần tài ba, quyết đoán. Để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, cụ Mết lãnh đạo dân làng Xô Man đêm đêm thức mài vũ khí, ban ngày đi phát hết các rẫy cũ, trồng pom chu và sắn xanh mượt cả núi rừng. Trong những giờ phút nghiêm trọng nhất giữa cái sống và cái chết, cụ Mết đã chỉ huy đội du kích từ trong rừng bất ngờ xông lên nhà ưng tiêu diệt lũ ác ôn cứu sống . Tiếng hô của cụ Mết vang lên: "Chém ! Chém hết !". Những cây rựa sáng loáng vung lên. Dưới lưỡi mác của cụ Mết, thằng Dục chỉ huy nằm gục trên vũng máu. Bọn giặc bị giết chết, “xác mười tên lính giặc ngổn ngang quanh đống lửa” xà nu giữa nhà ưng. Chính "đêm ấy", tiếng chiêng nổi lên, lửa cháy khắp rừng. Và "cả rừng Xô Man ào ào rung động". Chính đêm ấy, cụ Mết già làng, người anh hùng bộ tộc trong tư thế lẫm liệt của người chiến thắng đã truyền hịch đánh Mĩ - Diệm vang vọng núi rừng: "Đốt lửa lên ! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây vụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên !".
   Cụ Mết trong truyện "Rừng xà nu" được miêu tả và ngưỡng mộ như một vị anh hùng dân tộc. Cụ đã thắp sáng ngọn lửa chiến đấu và chiến thắng vì chân lí lịch sử: "Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo !". Cụ đã nhắc nhở mọi người Strá phải giữ lấy truyền thống "thương núi, thương nước" kể lại cho con cháu nghe sau này. Nhân vật cụ Mết, một già làng, một lão du kích phi thường là một thành công đặc sắc của Nguyễn Trung Thành trong khắc họa tính cách anh hùng sử thi huyền thoại.
b. Dít là hình ảnh người phụ nữ mới của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thời đánh Mĩ. Dít là em gái của Mai. Cô có cái mũi hơi tròn, “đôi mắt mở to, bình thản, trong suốt”. Lớn lên, Dít càng giống Mai. Dít cũng bị giặc bắt khi đi vào rừng tiếp tế cho đội du kích. Lũ giặc đã biến Dít thành "tấm bia sống", bắn sượt qua tai, sém tóc, váy rách tượt từng mảng. Nhưng “từ viên đạn thứ mười trở đi, Dít chùi nước mắt, im bặt, nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng !". Thật là gan dạ, lẫm liệt. Chỉ ba năm sau, Dít đã trở thành Bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội, linh hồn cuộc chiến đấu của dân làng Xô Man. Có thể nói Mai và Dít tiêu biểu cho những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam: "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Họ đã gắn bó cuộc đời mình với sự sống còn, với đau thương và uất hận, với nhục và vinh của dân tộc trong thời đánh Mĩ.
c/ Đọc truyện "Rừng xà nu" ta không thể nào quên được bé Heng, mặc dù tác giả chỉ phác họa một vài nét. Đó là một chú bé nhanh nhẹn, thông minh, thuộc mọi con đường, những hầm chông, những giàn thò của làng mình như thuộc lòng bàn tay mình. Người nhỏ bé, đóng khố, “áo bà ba dài phết đít, đầu đội một cái mũ sụp” xin được của anh Giải phóng quân nào đó. Một khẩu súng trường đeo chéo ngang lưng "ra vẻ một người lính thực sự". Heng chỉ là người dẫn đường, chỉ là người dẫn chuyện, xuất hiện trong khoảnh khắc. Thế mà đầy ấn tượng, đó là cái tài của Nguyễn Trung Thành trong miêu tả nhân vật. Bé Heng đã trưởng thành cùng cuộc chiến đấu vũ trang của dân làng Xô Man. Con người em đã hình thành bao phẩm chất anh hùng. Em là một cây xà nu, một cây con mới mọc "vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã..." trong bom đạn giặc !
 
      CHẤT SỬ THI VÀ CẢM HỨNG LÃNG MẠN TRONG TRUYỆN
- Đề tài: Viết về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ; số phận và con đường giải phóng của dân làng Xôman) không chỉ là vấn đề sinh tử của một ngôi làng ở Tây Nguyên mà còn là của cả dân tộc Việt Nam.
- Hệ thống nhân vật mà điển hình là Cụ Mết, Tnú, Dít: đều là những cá nhân anh hùng kết tinh cao độ vẻ đẹp và phẩm chất của cả cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên, thậm chí của con người Việt Nam trong chiến đấu (yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, trung thành với cách mạng…
- Không gian nghệ thuật: rộng lớn.
- Cách kể chuyện: Chuyện được kể bên bếp lửa qua lời kể của một già làng, đông đảo dân làng từ già đến trẻ đều đang quây quần bên bếp lửa để lắng nghe, không khí rất trang nghiêm
- Xây dựng thành công những hình tượng nghệ thuật độc đáo – hình tượng cây xà nu, rừng xà nu không chỉ thể hiện tư tưởng chủ đề, đem lại chất sử thi mà còn tạo nên giá trị lãng mạn bay bổng cho thiên truyện.
- Giọng điệu: ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng; ngôn ngữ trang trọng, hào hùng.
NGHỆ THUẬT
- Không khí, màu sắc đậm chất Tây Nguyên thể hiện ở bức tranh thiên nhiên; ở ngôn ngữ, tâm lí, hành động của các nhân vật.
- Xây dựng thành công các nhân vật vừa có những nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu(cụ Mết; T nú, Dít...)
- Khắc họa thành công hình tượng cây xà nu-một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc-tạo nên màu sắc sử thi và lãng mạn bay bổng cho thiên truyện.
- Lời văn giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu, khi thâm trầm, khi tha thiết, trang nghiêm,…

Ý NGHĨA VĂN BẢN
- Ngợi ca tinh thần bất khuất, sức mạnh quật khởi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, đất nước, con người VN nói chung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
- Khẳng định chân lí của thời đại: để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân, không có cách nào khác là phải cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

global video
Thống kê
  • Đang truy cập17
  • Máy chủ tìm kiếm6
  • Khách viếng thăm11
  • Hôm nay2,767
  • Tháng hiện tại73,343
  • Tổng lượt truy cập847,852
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây